Những yếu tố then chốt để phát triển doanh nghiệp Việt

Nếu cần cải thiện thì việc đầu tiên nên làm đó là cần phải nâng cấp các thiết bị, công nghệ mới được hỗ trợ từ Nhà nước để doanh nghiệp có tầm nhìn cụ thể về những việc phải làm trước mắt cũng như hỗ trợ cho vay ưu đãi nhằm nâng cấp các thiết bị, công nghệ của mình.

Các thách thức được đặt ra cho các doanh nghiệp Việt hiện nay để có thể tồn tại và phát triển bền vững kể từ khi hội nhập quốc tế sâu rộng đang tạo ra những cơ hội thuận lợi chưa từng có cho nền kinh tế Việt. Thế nhưng vẫn còn nhiều yếu tố làm cho cuộc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Vì vậy xét ở nhiều khía cạnh, doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa cân sức khi cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn quốc tế về thâm niên hoạt động và về các mặt khác như công nghệ, nhân lực...
 
 
Về những yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam hiện nay, trước hết phải kể tới việc lãi suất cho DN vay cao so với khu vực và thế giới. Thống kê cho thấy năm 2016, phần lớn DN nhỏ và vừa Việt Nam vay ngân hàng xoay quanh lãi suất 9%/năm. Trong khi đó, DN Đài Loan (Trung Quốc) vay với lãi suất 2%/năm, lãi suất của DN Nhật Bản xoay quanh 1%/năm…

Vì thế để cải thiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt thì điều quan trọng nhất hiện nay là phải đưa ra lãi suất cho doanh nghiệp Việt Nam vay trở về mức ngang bằng với khu vực và thế giới. Để đạt được điều này cần phải xem lại nhiều yếu tố về hệ thống ngân hàng nhằm đưa ra các biện pháp kịp thời và hợp lý. 

Để có thể giảm được lãi suất cho vay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung ưu tiên cho sản xuất kinh doanh, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ DN nhỏ và vừa, DN ứng dụng công nghệ cao…, giảm bớt tín dụng cho khu vực DN Nhà nước.

Muốn điều chỉnh cơ cấu tín dụng, ngân hàng phải thay đổi căn bản cách thức cho vay. Tiến hành cho vay chủ yếu theo quản lý dòng tiền, hình thức thế chấp chỉ xem là phụ.
 
Không chỉ có vậy, công nghệ và cơ sở vật chất của các doanh nghiệp Việt hiện nay vẫn chưa thể nào so sánh với các doanh nghiệp quốc tế, điều này khiến cho các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp Việt thua kém khá nhiều các sản phẩm của các doanh nghiệp khác trên thế giới, đã vậy do công nghệ lạc hậu nên giá thành không được cải thiện là bao, chi phí sản xuất luôn cao hơn chi phí trung bình của thế giới từ 20-30% trong khi chất lượng chưa đạt chuẩn.

Nếu cần cải thiện thì việc đầu tiên nên làm đó là cần phải nâng cấp các thiết bị, công nghệ mới được hỗ trợ từ Nhà nước để doanh nghiệp có tầm nhìn cụ thể về những việc phải làm trước mắt cũng như hỗ trợ cho vay ưu đãi nhằm nâng cấp các thiết bị, công nghệ của mình.

Nguyên nhân thứ ba, đội ngũ chủ chốt quản trị DN Việt Nam còn yếu. Trong khi các DN khu vực và quốc tế thực hiện quản trị DN hiện đại, áp dụng chuẩn mực theo thông lệ quốc tế thì các DN Việt Nam còn nặng quản lý theo gia đình. Quản trị công ty chưa công khai minh bạch thông tin, chưa theo chuẩn mực quản trị DN hiện đại. Có thể thấy điều này qua việc số DN Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán còn quá ít, chưa đến 1% DN đang hoạt động.

Trong khi đó, hiện tượng chảy máu chất xám đang có xu hướng tăng khi đội ngũ CEO, nguồn nhân lực chất lượng cao chạy sang làm thuê cho các công ty nước ngoài.

Việc này làm cho chi phí nhân công chất lượng cao tại Việt Nam trở nên khan hiếm và khá đắt, làm giảm đi sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Hiện tại Việt Nam chỉ được biết đến là thị trường lao động giá rẻ, thế nhưng lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật cao đều đang rất khan hiếm, nhân lực Việt Nam vẫn còn thua kém khá nhiều so với các nhân lực của các nước khác trên thế giới. 

Đã thế, chính sách kinh tế của Nhà nước trong nhiều trường hợp không được báo trước, nhiều thủ tục hành chính còn gây khó khăn cho DN, dù trong 5 năm trở lại đây, chất lượng của các quy định pháp luật đã có cải thiện đáng kể.

Các DN cần một hệ thống chính sách thuận lợi và ổn định dài hạn. Cùng với đó, các thủ tục hành chính phải gọn, nhẹ, đơn giản nhất cho DN, như quy trình cấp phép cho một dự án đầu tư xây dựng chỉ cần khoảng 6-9 tháng, thay vì khoảng 3 năm như hiện nay. Ở các nước, DN thường chỉ phải chờ tối đa 6 tháng là đã có giấy phép xây dựng hoàn chỉnh.
 
Những vấn đề kể trên là những điều kiện tiên quyết cần phải cải thiện ngay để cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam, nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt cũng như nền kinh tế Việt Nam trên bước đường hội nhập với thế giới.  

                                                                                          Theo Cafef

Tạo bởi Nguyễn Oanh vào lúc 11:52:50 10-05-2017

Bài viết cùng thể loại