Ngành bảo hiểm tại Việt Nam

Thị trường ngành bảo hiểm Việt Nam càng ngày càng đa dạng và sôi động với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn cần khắc phục

Bảo hiểm:

                Bảo hiểm mà là một thuật ngữ trong luật và kinh tế mô tả một sản phẩm người ta mua để tự bảo vệ mình khỏi mất tài sản. Những người mua bảo hiểm chi trả bảo hiểm (thường trả tiền hàng tháng / mỗi 3 tháng / hai lần một năm / mỗi năm, nó phụ thuộc vào sự lựa chọn của người được bảo hiểm sau khi xem xét hạn thanh toán phù hợp với tình trạng tài chính của mình). Người hưởng sẽ nhận được một hợp đồng chi tiết bằng văn bản ghi rõ các điều kiện và hoàn cảnh mà họ có thể được bồi thường. Nói cách khác, trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, nếu có điều gì xảy ra cho chủ thể được hưởng bảo hiểm, các công ty bảo hiểm sẽ trả lại tiền.

Tổng quan:

              Đầu tiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam gần đây rất sôi động và đa dạng. Số lượng các công ty bảo hiểm đang gia tăng, nhiều dạng bảo hiểm không chỉ bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ mà còn ba lĩnh vực: cá nhân, tài sản và trách nhiệm dân sự.

                Việt Nam bắt đầu ngành công nghiệp bảo hiểm từ năm 1993, từ thời điểm đó đến nay đã có một bước tiến dài với những nỗ lực. Nếu như trước đây chỉ có một công ty bảo hiểm là Bảo Việt, thì hiện nay có hơn 30 doanh nghiệp. Tuy nhiên, do chính sách khác nhau, thị phần bảo hiểm Việt Nam được chia không đồng đều. Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, bởi vì chính sách Việt Nam vẫn chưa mở cửa, doanh nghiệp bảo hiểm nội địa chiếm 95% thị phần trong khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chiếm 62,5% thị trường bảo hiểm nhân thọ . phần Với hơn 800 loại sản phẩm, lợi ích chính của lĩnh vực này đến từ phí bảo hiểm. Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm của ngành này năm 1993-2004 là 38% / năm. Sự đóng góp của ngành bảo hiểm vào GDP đã tăng trưởng đáng kể; từ 0,37% năm 1993 lên đến  2,13% vào cuối năm 2006. Tổng số tiền bảo hiểm bồi thường cho các hộ gia đình và kinh tế 2000-2005 đạt 12.300 tỷ đồng. Đến cuối năm 2006, tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm là 34,400 tỷ đồng, chiếm 4, 07% GDP. Đây là số lượng đáng kể vì năm 2001 con số chỉ là 1, 06% GDP.

              Các khoản đầu tư lớn của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu quốc gia, tiền gửi ngân hàng. Phần còn lại là liên doanh, đầu tư chứng khoán và đầu tư trực tiếp trong cơ sở hạ tầng, phát triển kinh doanh và dịch vụ cuộc sống. Doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam đóng góp vào nền kinh tế và xã hội bằng cách tham gia nhiều hợp đồng lớn, chịu trách nhiệm lên đến hàng tỷ USD như bảo hiểm hàng không hoặc xăng dầu, Nhà máy điện Phú Mỹ, các tòa nhà hoặc khách sạn lớn với nhiều phòng ốc, nhà máy ... Hoạt động đầu tư của các công ty này đã tạo ra một nguồn vốn lớn cho xã hội. Tuy nhiên, tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm không đủ chuyên nghiệp. Bây giờ chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm thành lập công ty quản lý quỹ và 2 doanh nghiệp bảo hiểm được liệt kê trong thị trường chứng khoán. Thực tế này đã làm giảm khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm.

              Theo báo cáo cụ thể của AMBest cho Việt Nam, ngành công nghiệp bảo hiểm đã được mở rộng rãi kể từ ngày Việt Nam gia nhập vào WTO năm 2007. Sự phát triển kinh tế của Việt Nam đã thúc đẩy nhu cầu về bảo hiểm và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp này trong những năm gần đây, thị trường bảo hiểm với 20% trên tổng số tiền ghi chép. Việt Nam mới đây đã tăng trưởng với tốc độ hai con số và AMBest đã dự đoán rằng sự gia tăng này có thể được giữ liên tục. Các yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng của thị trường là có số lượng người trung lưu đang dần tăng lên và họ hận thức được quyền lợi bảo hiểm. Trong năm 2011 số lượng đạt 37,5 nghìn tỷ đồng, tăng gần 22% so với năm 2010. Đến cuối năm 2012, tổng doanh thu phí đường sẽ đạt 46,4 nghìn tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2011.

Khắc phục khó khăn và kế hoạch phát triển:

              Theo các chuyên gia, kể từ năm 2012 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài sẽ được thành lập và hoạt động tại Việt Nam do các cam kết WTO. Trong khi đó, mật độ cạnh tranh sẽ tăng theo. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tài chính vững mạnh và kinh nghiệm lâu dài trong ngành công nghiệp bảo hiểm cũng như thương mại quốc tế có thể là một thách thức khó khăn cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Vì vậy, chúng ta cần phải thích ứng với thị trường bảo hiểm cạnh tranh và tập trung vào phát triển sản phẩm mới, mở rộng kênh phân phối để khai thác thị trường tốt. Có một số lĩnh vực như thiên tai , nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, kiểm toán và dịch vụ kế toán ... mà doanh nghiệp bảo hiểm chưa khai thác. Hơn nữa, thị trường cần phải được phát triển với sự cạnh tranh lành mạnh, giảm thiểu kiểu gian lận. Trong lĩnh vực khác, lạm phát làm tăng rủi ro cho nền kinh tế và tại thời điểm đó nhu cầu bảo hiểm sẽ tăng lên có nghĩa là lạm phát có thể không ảnh hưởng đến ngành công nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam.

             Tuy nhiên, khả năng hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm còn hạn chế khi hệ thống văn bản pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước còn chưa hoàn hảo đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của ngành bảo hiểm tại Việt Nam. Thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm ở đây là phải cải thiện hệ thống đào tạo cũng như chất lượng dịch vụ khách hàng để xây dựng sự tin tưởng của khách hàng. Có một vấn đề ở Việt Nam mà không xảy ra ở các nước khác, đó là người ta thường không tin tưởng doanh nghiệp bảo hiểm, họ có một tư tưởng đối với bảo hiểm là "dễ mua, khó nhận". ​​Việc giải quyết bồi thường đã không được xử lý tốt, công ty không đảm bảo lợi ích tối đa cho khách hàng. Cho nên, xây dựng sự tin tưởng của khách hàng có thể được coi như là chìa khóa thành công cho ngành công nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong tương lai.

 

Tạo bởi Mỹ Anh vào lúc 15:43:35 09-08-2013

Bài viết cùng thể loại