Kinh doanh tại Việt Nam (phần 1)

Thực hiện kinh doanh ở Việt nam cũng giống như những nước khác đều có những qui định và luật lệ riêng cần phải tuân theo.

Tổng quan:

Theo Ngân hàng Thế giới (2012), với 88.780.000 người, Việt Nam là nước đông dân. Từ khi trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2007, Việt Nam đã có những bước tiến để phát triển nền kinh tế. Những thay đổi này đã cho kết quả tích cực. Ngân hàng Thế giới ghi nhận vào năm 2012, GDP của Việt Nam là 141.7 tỉ USD, đạt tốc độ tăng trưởng 5% mỗi năm. Kinh tế thương mại nghiên cứu cho rằng là nước xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu khu vực và thu hút nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn, Việt Nam đang phát triển ở Đông Nam Á.

Thách thức thị trường:
Sau khi thực hiện nghiên cứu và điều tra, dịch vụ thương mại Hoa Kỳ (2012) đã đưa ra một số thách thức mà các nhà đầu tư có thể gặp phải khi thiết lập kinh doanh tại Việt Nam:

  • Chính sách và các quyết định của chính phủ về các dự án thương mại thiếu nhất quán, và đồng bộ.
  • Quyền bảo vệ trí tuệ không hiệu quả gây ra nhiều rắc rối cho cả doanh nghiệp trong nước và quốc tế hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
  • Các nhà đầu tư thấy khó khăn để hoạt động kinh doanh ở Việt Nam do thiếu lao động có tay nghề cao, cơ sở hạ tầng kém, và chi phí càng ngày càng cao.
  • Pháp luật lao động tại Việt Nam vẫn còn mơ hồ vì vậy, vấn đề quản lý lao động làm các nhà đầu tư chật vật

Bảo vệ sở hữu trí tuệ:

Sau khi quyết định thành lập kinh doanh tại Việt Nam, các công ty nước ngoài nên đăng ký thương hiệu và quyền sở hữu trí tuệ. Theo dịch vụ thương mại Mỹ, các quyền phải được đăng ký và thi hành theo luật pháp địa phương. Người ta khuyến cáo rằng các công ty có qui mô vừa và nhỏ nên làm việc cùng với các hiệp hội và tổ chức để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thương mại. Để dễ dàng hơn, dịch vụ thương mại Mỹ đã liệt kê một số tổ chức có thể hỗ trợ trong việc đưa ra kiến ​​thức về sở hữu trí tuệ:
• Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA): http://ww2.bsa.org/country.aspx?sc_lang=vi-VN
• Liên minh sở hữu trí tuệ quốc tế (IIPA): http://www.iipa.com/index.html
• Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (INTA): http://www.inta.org/Pages/Home.aspx
• Liên minh chống hàng giả quốc tế (IACC): http://www.iacc.org/
Đối với các loại và thời hạn bảo hộ, Mayer Brown thu thập dữ liệu được liệt kê trong bảng dưới đây.

Loại

Giới thiệu sơ bộ

Thời gian

BẰNG SÁNG CHẾ

Một giải pháp công nghệ mới lạ và sáng tạo được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội

20 năm kể từ ngày nộp đơn

BẢN QUYỀN

Quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm mà họ tạo ra hoặc sở hữu - "tác phẩm" có nghĩa là một sáng tạo trong các ngành nghệ thuật, khoa học, văn học, thể hiện qua bất kỳ phương tiện hay hình thức

Đời tác giả cộng thêm 50 năm, ngoại trừ trong lĩnh vực phim ảnh, trò chơi, mỹ thuật ứng dụng chỉ hưởng 50 năm kể từ ngày công bố

NHÃN HIỆU

Nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nó có thể dưới hình thức từ ngữ, hình ảnh hoặc thể hiện bằng một hoặc kết hợp nhiều màu sắc.

10 năm kể từ ngày nộp đơn, gia hạn trong thời gian 10 năm liên tiếp không giới hạn

TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP

Bề ngoài của sản phẩm được thể hiện trong cấu hình ba chiều, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó

5 năm kể từ ngày nộp đơn, gia hạn 2 lần 5 năm nữa - lên đến tối đa là 15 năm

THƯƠNG HIỆU

Tên gọi một tổ chức, cá nhân dùng trong các hoạt động kinh doanh để phân biệt với các đối thủ kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh tế

Toàn bộ thời gian sử dụng

Nguồn nhân lực:

Genoverse (1999) nhấn mạnh rằng việc kinh doanh tại Việt Nam đặc biệt phức tạp. Nói cách khác, các công ty nước ngoài không thành công vì họ cho rằng việc kinh doanh tại Việt Nam cũng giống như ở các nước khác. Với nguồn nhân lực, Genoverse khuyên các công ty nước ngoài chỉ nên gửi những nhân viên có kinh nghiệm làm việc châu Á. Tại thời điểm này, các nhà đầu tư châu Á có lợi thế cạnh tranh so với những người châu Âu hoặc Mỹ vì văn hóa các nước châu Á ít nhất có một điểm chung. Nhiều công ty đã thất bại tại Việt Nam khi họ đưa những nhân viên nghiệp dư không có kiến ​​thức về làm việc trong môi trường châu Á hay tuổi đời còn trẻ đến Việt Nam.

Theo Mayer Brown cho những người có đủ điều kiện để làm việc như quản lý điều hành, giám đốc và các chuyên gia theo pháp luật Việt Nam và muốn ở lại làm việc tại Việt Nam trong 3 tháng hoặc nhiều hơn được yêu cầu phải có giấy phép lao động. Trong hồ sơ phải có:

  • Ảnh của người nước ngoài
  • Giấy chứng nhận sức khoẻ được cấp ở nước ngoài hoặc Việt Nam phải phù hợp với tiêu chuẩn của Bộ Y tế
  • Mẫu đăng ký tuyển dụng đề xuất của người nước ngoài
  • Hồ sơ pháp lý liên quan đến nơi cư trú của người nước ngoài
  • Giấy chứng nhận của các chuyên gia cho trình độ của người nước ngoài


Giấy phép lao động chỉ cho phép họ làm việc tại Việt Nam lên đến 36 tháng. Trong một số trường hợp, nó có thể được mở rộng:

  • Khi sử dụng lao động có kế hoạch  đào tạo công nhân Việt Nam thay thế cho một người nước ngoài trong cùng một vị trí nhưng người đó vẫn chưa thể hiện nhiệm vụ theo yêu cầu.
  • Khi người nước ngoài vào thị trường Việt Nam làm việc trong các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế và thời gian cần thiết phải mất hơn 36 tháng

Lao động Việt Nam cần được điều trị và trả tiền công bằng trong lao động và các quy định của Việt Nam. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam ban hành mức lương mức lương tối thiểu, do đó, doanh nghiệp không trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu.
Có 4 khu vực tại Việt Nam. Ở mỗi khu vực, mức lương tối thiểu thay đổi khác nhau. Kể từ tháng, 1, năm 2013, chính sách tiền lương tối thiểu đã có hiệu lực cho những người làm việc cho các tập đoàn và các tổ chức. Theo thông tư do chính phủ:
Khu vực I: 2.350.000 đồng / tháng
Khu vực II: 2.100.000 đồng / tháng
Khu vực III: 1.800.000 đồng / tháng
Khu vực IV: 1.650.000 đồng / tháng

Tạo bởi Mỹ Anh vào lúc 14:05:34 16-08-2013

Bài viết cùng thể loại